Trang chủ Tin tức Tin Khoa học
PTN TBG

PTN Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc

Đại học Khoa học Tự Nhiên Tp Hồ Chí Minh

Tin tức Khoa học

Vaccine hy vọng cho ung thư vú

Email In

Vaccine hy vọng cho ung thư vú

Các nhà khoa học đã phát triển một loại vaccine chống ung thư làm giảm hơn 80% kích
thước khối u ung thư vú khi được kiểm tra trên chuột trong phòng thí nghiệm.

Vaccine này hoạt động bằng cách kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể để nhận
biết một loại phân tử đường đơn lộ ra bên ngoài bề mặt của các tế bào ung thư. Sau đó,
hệ thống miễn dịch sẽ tấn công khối u, để lại những khối mô khỏe mạnh không bị tổn
thương.

Hơn nữa, những xét nghiệm trên động vật sẽ cần thiết trước khi vaccine có thể được thử
nghiệm trên người. Nghiên cứu tại Đại học Georgia, được công bố trên Kỷ yếu của Viện
Hàn lâm Khoa học Quốc Gia.

Nguyễn Thị Kiều Oanh

Cán bộ nghiên cứu PTN Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc

( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. )
 

Cấy ghép tế bào gốc phục hồi chức năng trên chuột

Email In

Cấy ghép tế bào gốc phục hồi chức năng trên chuột

THỨ 5, Ngày 10 tháng 11 năm 2011(HealthyDay News)- Một nghiên cứu
mới của các nhà nghiên cứu Nhật Bản đưa rah y vọng rằng một ngày nào đó những người bị suy
tuyến yên có thể được cấy ghép mô được tạo ra từ tế bào gốc giúp khôi phục chức năng bình thường
của tuyến.

Tuyến yên có kích thước nhỏ chỉ bằng hạt đậu, nằm ở đáy não. Nó kiểm soát việc sản xuất và chức
năng của nhiều loại hormone, bao gồm cả hormone tang trưởng, khả năng sinh sản, căng thẳng và
quy đinh về nhiệt độ…Nếu thiếu tuyến yên cơ thể sẽ không tồn tại.

Trong nghiên cứu mới được công bố trực tuyến ngày 9 tháng 11 vừa qua trên tạp chí Nature, các
nhà khoa học từ Trung tâm Sinh học phát triển RIKEN, Kobe, Nhật Bản đã nuôi cấy tế bào gốc phôi
từ chuột sau đó biệt hóa thành các loại khác nhau của tế bào gốc nội tiết trong phòng thí nghiệm.
Tiếp theo, họ cấy ghép một số mô tế bào sản xuất hormone (thường lấy từ tuyến yên ở động vật khỏe
mạnh) Vào chuột đã bị cắt bỏ tuyến yên và có thể khôi phục lại sự tiết hormone trên chuột.

Tiến sĩ Yoshiki Sasai, trưởng nhóm nghieen cứu tổ chức và thần kinh tại RIKEN và là tác giả bài báo
cho biết: “Chúng tôi đã thành công trong việc biệt hóa tế bào gốc phoo thành các tế bào tiết hormone
trưởng thành, đặc biệt hiệu quả nhất là các tế bào tiết hormone adrenocorticotropin (ACTH).Vì vậy,
chúng tôi đã thử nghiệm chức năng của chúng bằng cách cấy ghép các tế bào này vào những con
chuột đã cắt bỏ tuyến yên.Việc cấy ghép không chỉ khôi phục sự tiết hormone mà còn cải thiện được
hoạt động và sự sống của những con chuột này. Chúng có thể sống sót qua 8 tuần, trong khi những
con chuột bị cắt bỏ tuyến yên mà không cấy ghép thì không kéo dài được sự sống qua 8 tuần.”

“Đây là nghiên cứu đầu tiên cho thấy ứng dụng thực tế trong việc nuôi cấy tế bào gốc tuyến yên tiến
tới cấy ghép điều trị trên người. Đó là nghiên cứu tiên phong và mang tính bước ngoặc,” bác sĩ phẫu
thuật, tiến sĩ Edward Vates, nhà giải phẫu thần kinh đồng giám đốc của các chương trình thần kinh
nội tiết tại trường Đại học Trung tâm Y khoa Rochester, New York.

“Đây là một chủ đề rất được quan tâm, rất nhiều các nhà khoa học đang cố gắng để làm điều này.Họ
đã thực hiện một bước nhảy vọt trong việc nghiên cứu về tuyến yên,” Melmend, một nhà nghiên cứu

nội tiết lâu năm. Ông cũng đồng ý rằng nghiên cứu mở ra triển vọng cho các bệnh nhân tuyến yên.

“ Điều này là rất quan trọng trên lâm sang, nhưng cũng phải mất vài năm nghiên cứu ứng dụng sang
người. Nếu nó được ứng dụng thành công , nó có thể là một bước đột phá tuyệt vời, đặc biệt là cho
trẻ em bị rối loạn chức năng tuyến yên di truyền. Người lớn bị suy tuyến yên do chấn thươngđầu,
khối u và bị bức xạ phần đầu, cổ cũng có thể được giúp đỡ,”Melned cho biết.

Sasai cho biết các nhà nghiên cứu lên kế hoạch áp dụng những phát hiện mới này với tế bào gốc
phôi người và các tế bào gốc đa năng cảm ứng, được gọi là tế bào iPS. Cũng hy vọng phát triển một
phương pháp hiệu quả cho sản xuất tuyến yên trên người trong vài năm tới. Trong nghiên cứu này,
số lượng mô để ghép được kiểm tra theo kinh nghiệm, nói cách khác thử và lỗi.

Vates cho biết: “Mọi người đều nghĩ cấy ghép tế bào gốc để giúp người bị mất tuyến yên, nhưng mặt
khác của nghiên cứu này có thể giúp chúng tôi bắt đầu tìm ra lý do tại sao một số người bị khối u
tuyến yên, làm thế nào chúng tôi có thể tiến tới các phương phá điều trị tốt hơn cho việc kiểm soát
khối u tuyến yên, và tuyến yên bị ảnh hưởng bởi các bệnh khác.”

Phí Thị Lan

Cán bộ nghiên cứu PTN Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc

 

Aspirin làm giảm nguy cơ ung thư !!!

Email In

Aspirin làm giảm nguy cơ ung thư !!!

Aspirin là một trong những thuốc được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Gần đây, các
nhà khoa học đã phát hiện thêm lợi ích mới kháng ung thư của aspirin ngoài công dụng giảm
đau, hạ sốt thông thường. Giáo sư Peter Rothwell của thuộc viện Nuffield khoa thần kinh
học lâm sàng của Đại học Oxford ở Anh và các đồng nghiệp đã công bố 3 nghiên cứu trên
tạp chí The Lancet củng cố thêm bằng chứng rằng những người trung niên sử dụng aspirin
liều thấp mỗi ngày có thể giúp ngăn ngừa ung thư, đặc biệt nếu họ có nguy cơ gia tăng bệnh.

Theo các nghiên cứu của giáo sư Rowell cho thấy aspirin làm giảm nguy cơ di căn
của ung thư và ngăn ngừa đau tim và đột quỵ. Các nhà nghiên cứu cho biết lợi ích kháng
ung thư có thể đạt được bằng việc sử dụng aspirin liều thấp hàng ngày trong
khoảng 2 – 3 năm thay vì 10 năm như các nghiên cứu trước.

Trong nghiên cứu đầu tiên, Rothwell và các đồng nghiệp đã tổng hợp dữ liệu từ 51 thử
nghiệm ngẫu nhiên lâm sàng đặt ra để so sánh tác dụng của liều aspirin hàng ngày so
với không dùng thuốc trên các biến cố tim mạch như đau tim, đột quỵ và ung thư.

Từ những kết quả thu được họ kết luận rằng aspirin làm giảm nguy cơ tử vong ung thư
15% và tỉ lệ này tăng lên với việc sử dụng kéo dài. Ví dụ, đối với những người đã cho 5 năm
hoặc nhiều hơn, giảm nguy cơ tử vong do ung thư là 37%. Sau ba năm sử dụng aspirin, giảm
tỷ lệ mắc ung thư là 23% ở nam giới và 25% ở phụ nữ.

Trong nghiên cứu thứ hai của họ, Rothwell và các đồng nghiệp đã kiểm tra hiệu quả
của việc sử dụng aspirin trên di căn, ung thư lây lan từ các vị trí ban đầu đến các bộ phận
khác của cơ thể. Đối với điều này, họ tổng hợp dữ liệu từ 5 thử nghiệm ngẫu nhiên lớn Anh
điều tra sử dụng thuốc aspirin trong việc ngăn ngừa bệnh tim và bổ sung thêm thông tin từ sổ
ung thư và các hệ thống xác nhận tử vong.

Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng thuốc aspirin đã dẫn tới sự giảm nguy cơ ung thư
lan đến các bộ phận khác của cơ thể. Giảm nguy cơ là 36% so với thời gian nghiên cứu trung
bình là 6,5 năm và đã không thay đổi theo tuổi tác hay giới tính.

Trong nghiên cứu thứ ba của họ, một trong những công bố trên The Lancet Oncology,
Rothwell và các đồng nghiệp một lần nữa kiểm tra tác động của aspirin trên nguy cơ ung thư,
nhưng lần này họ có hệ thống xem xét quan sát nghiên cứu (phân loại theo một nhóm người
theo thời gian) chứ không phải là thử nghiệm lâm sàng nơi mà người tham gia được phân
ngẫu nhiên vào nhóm điều trị khác nhau.

Phân tích này xác nhận kết quả mà họ đã tìm thấy từ những phân tích thử nghiệm ngẫu
nhiên: giảm nguy cơ tương tự. Về việc ngăn chặn nguy cơ di căn, phát hiện của họ cho thấy
hiệu quả lớn nhất là trong các loại ung thư ruột và ung thư đại trực tràng nói riêng. Nó cũng
bao gồm hầu hết các ung thư vú và tuyến tiền liệt, và một số ung thư phổi.

Tuy nhiên, việc dùng aspirin hàng ngày không phải là không có rủi ro. Về căn bản,
aspirin không phải là một loại thuốc vô hại và đối với một số người, tác dụng phụ làm sự

gia tăng nguy cơ của xuất huyết nội, đặc biệt trong dạ dày và có nhiều khả năng đột quỵ khi
ngưng sử dụng thuốc hàng ngày. Ngay trong vấn đề này, Rothwell và các đồng nghiệp cho
biết hai phát hiện mới cho thấy tác hại của aspirin có thể ít nghiêm trọng hơn so với suy nghĩ
trước đây. Một là nguy cơ chảy máu dạ dày xuất hiện để giảm việc sử dụng kéo dài, và nguy
cơ tử vong do chảy máu dạ dày với aspirin không lớn hơn so với giả dược. Họ lập luận rằng
khi cân bằng giữa rủi ro và lợi ích thì nguy cơ chảy máu nội tạng ít có hại với người bệnh hơn
so với việc tàn tật hay tử vong do ung thư, đột quỵ và đau tim. Họ đề nghị, trong điều kiện tối
ưu và đặc biệt với việc sử dụng kéo dài, lợi ích làm giảm nguy cơ ung thư của aspirin tốt hơn
so với đau tim và đột quỵ.

Ngoài ra có tiềm năng xung đột với các thuốc khác. Ví dụ, một tác dụng của aspirin là
nó giúp ngăn ngừa đông máu do ức chế sinh tổng hợp thromboxane, một prostaglandin đông
máu được sản xuất bởi tiểu cầu. Vì vậy, những người đang sử dụng các chất chống đông hay
chất pha loãng máu không nên dùng aspirin, trừ khi chỉ dẫn của bác sĩ.

Các chuyên gia đang kêu gọi chính phủ phân tích và tư vấn về việc sử dụng aspirin để
ngăn ngừa ung thư. Trong báo cáo của Rothwell và các đồng nghiệp, nhấn mạnh nhu cầu cấp
thiết cho các thử nghiệm mới để xác nhận những lợi ích này.

Nguyễn Thị Kiều Oanh

Cán bộ nghiên cứu PTN Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc

( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. )

 

TÌM RA THUỐC CHỮA HOÀN TOÀN BỆNH VIÊM GAN SIÊU VI C

Email In

TÌM RA THUỐC CHỮA HOÀN TOÀN BỆNH VIÊM GAN SIÊU VI C

Theo Đài Tiếng nói nước Nga, sau hơn 20 năm nghiên cứu, các nhà khoa học Nga đã bào

chế thành công một loại dược phẩm có thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh viêm gan C trong vòng một

tháng.

Dược phẩm này có tên Profetal và đã được cấp bằng sáng chế. Dự kiến trong năm 2012,

Profetal sẽ xuất hiện tại các cửa hàng dược phẩm. Ông Alexander Petrov, Giám đốc Xí nghiệp

dược phẩm Ural, nơi nghiên cứu Profetal, cho biết dược chất chính của thuốc này là alpha-

fetoprotein, một loại protein đặc biệt được sinh ra trong cơ thể người phụ nữ chỉ vào một giai

đoạn nhất định. Tính năng này được các nhà khoa học nghiên cứu trong một thời gian dài và lưu

ý rằng đây có thể là một loại thuốc hiệu quả trong điều trị cho các bệnh nhân mắc các bệnh tự

miễn dịch và virus.

Cơ chế hoạt động của alpha-fetoprotein là chúng xâm nhập vào tế bào nơi đang có virus và

tiêu diệt virus trong máu. Tiếp theo, thuốc kháng virus hoàn toàn loại bỏ các tác nhân gây bệnh

viêm gan C. Kết quả là, chỉ sau một tháng bệnh nhân khỏi bệnh.

Hiệu quả mà các bác sĩ Nga đạt được với loại thuốc này lớn hơn nhiều lần so với các thuốc

thông thường chống bệnh viêm gan C. Đợt điều trị với thuốc thông thường kéo dài một năm và

chi phí khoảng hơn một triệu rúp và mới chỉ loại bỏ các triệu chứng chứ không phải chữa khỏi

căn bệnh này. Trong khi đó, việc sử dụng Profetal làm mức độ kháng thể trong máu của bệnh

nhân giảm xuống hàng chục lần, và người bệnh hồi phục hoàn toàn. Chi phí chữa trị cũng giảm

mạnh.

Ngoài ra, Profetal cũng có thể được sử dụng để điều trị căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Hiện

các nhà khoa học đang trong giai đoạn đầu nghiên cứu khả năng điều trị bệnh trên của Profetal và

đã ghi nhận những kết quả khả quan. Tuy nhiên, vẫn cần thêm các nghiên cứu sâu hơn để khẳng

định công dụng của Profetal trong điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS.

Huỳnh Thúy Oanh

Cán bộ nghiên cứu PTN Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc

( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. )

 

SẢN XUẤT THỊT TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

Email In

SẢN XUẤT THỊT TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

Một nhóm các nhà khoa học thuộc trường Đại học Maastricht (Hà Lan) đang phát triển sản phẩm thịt bò nhân tạo được nuôi cấy từ 10.000 tế bào gốc của bò, giúp chúng phân chia và biệt hóa thành các mô cơ giống như thịt bò nạc. Tiến sĩ Mark Post, người lãnh đạo nhóm nghiên cứu cho rằng: “Tôi nhận thấy rằng chúng ta không thể chỉ phụ thuộc các nguồn thịt gia súc tự nhiên trong những thập kỷ tới. Lúc đó, thịt nhân tạo sẽ là một sự lựa chọn bất khả kháng. Hiện tại, chúng tôi đang cố gắng chứng minh cho thế giới thấy rằng chúng có thể tạo ra những sản phẩm thịt nhân tạo”. Năm 2009, các nhà khoa học thuộc trường Đại học Maastricht cũng tạo thành công thịt lợn nhân tạo bằng phương pháp tương tự. Tuy nhiên, sản phẩm vẫn chưa có vị và màu như thịt lợn tự nhiên. Trước đó, một nhóm các nhà khoa học ở New York cũng tạo ra thịt cá nhân tạo bằng phương pháp nuôi cấy tế bào gốc từ mô cơ của cá vàng. Các nhà khoa học cho rằng mười tế bào gốc có thể tạo ra 50.000 tấn thịt trong hai tháng. Trong khi đó, các nhà khoa học thuộc trường Đại học Oxford (Anh) cho rằng phương pháp sản xuất thịt nhân tạo sẽ tiết kiệm từ 35%-60% năng lượng và giảm 80-90% lượng khí thải nhà kính so với việc nuôi gia súc để giết mổ lấy thịt.

Huỳnh Thúy Oanh

Cán bộ nghiên cứu PTN Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc

( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. )

 
Trang 1 của 8